- Cở sở lý luận và quy định của chế định Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự công ích
Hiến pháp năm 2013 nước ta quy định nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân như sau: “Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”. Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương ngày 09/11/2022 về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” đã khẳng định một trong số những nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính là: “Tổng kết thực tiễn, nghiên cứu hoàn thiện quy định pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự trong trường hợp chủ thể các quyền dân sự là nhóm dễ bị tổn thương hoặc trường hợp liên quan đến lợi ích công nhưng không có người đứng ra khởi kiện”; bên cạnh đó đã có định hướng ngành Kiểm sát nhân dân cần tập trung vào một số nhiệm vụ, phương hướng sau đây:
– Hoàn thiện thể chế để viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
– Hoàn thiện cơ chế tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, tăng cường kiểm soát bên trong việc thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động xét xử phù hợp với nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Những chủ trương này đã được thể chế hóa tại Nghị quyết số 205/2025/QH15 ngày 24/6/2025 của Quốc hội về việc thí điểm Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công (Nghị quyết 205). Theo đó, cho phép Viện Kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các nhóm dễ bị tổn thương khi không có người khởi kiện và xác định chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương bị xâm phạm quyền dân sự thuộc trường hợp Viện kiểm sát khởi kiện vụ án dân sự công ích để bảo vệ gồm: Trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và người mất năng lực hành vi dân sự và người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật. Đây là những đối tượng luôn được Đảng, Nhà nước rất quan tâm.
Nghị quyết 205 cũng quy định quy định Viện kiểm sát khởi kiện vụ án khi đã thông báo, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền, trách nhiệm khởi kiện theo quy định của pháp luật nhưng không có người khởi kiện, trường hợp này bao gồm: (1) Pháp luật chưa quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân nào có quyền, trách nhiệm khởi kiện; (2) Pháp luật đã quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, trách nhiệm khởi kiện nhưng cơ quan, tổ chức, cá nhân đó không khởi kiện.
Khi thực hiện khởi kiện vụ án dân sự công ích, Viện kiểm sát có nhiệm vụ quyền hạn: (1) Tiếp nhận, xử lý thông tin về việc xâm phạm quyền dân sự của chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương hoặc lợi ích công. (2) Kiểm tra, xác minh, thu thập thông tin, tài liệu, chứng cứ. (3) Yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ quyền dân sự, tài sản, bảo đảm thu thập, bảo vệ chứng cứ, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án. (4) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chấm dứt vi phạm và áp dụng biện pháp để ngăn chặn, khắc phục hậu quả. (5) Đình chỉ, phục hồi việc kiểm tra, xác minh. (6) Thông báo, kiến nghị với cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, trách nhiệm khởi kiện theo quy định của pháp luật; hỗ trợ việc khởi kiện. (7) Khởi kiện vụ án dân sự công ích và thực hiện quyền, nghĩa vụ của người khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án. (8) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án, thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Khái niệm nhóm dễ bị tổn thương
Đề cập đến thuật ngữ “Nhóm dễ bị tổn thương”, đây không phải là một thuật ngữ pháp lý có tính mới mà đã xuất hiện trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể:
Luật Phòng, chống thiên tai năm 2013 thì định nghĩa: “Đối tượng dễ bị tổn thương là nhóm người có đặc điểm và hoàn cảnh khiến họ có khả năng phải chịu nhiều tác động bất lợi hơn từ thiên tai so với những nhóm người khác trong cộng đồng. Đối tượng dễ bị tổn thương bao gồm trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người khuyết tật, người bị bệnh hiểm nghèo và người nghèo”[1].
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 không đưa ra định mà chỉ quy định nhóm dễ bị tổn thương gồm: Người cao tuổi, người khuyết tật; trẻ em; người dân tộc thiểu số; người sinh sống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật; phụ nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi; người bị bệnh hiểm nghèo theo quy định của pháp luật; thành viên hộ nghèo theo quy định của pháp luật[2].
Luật Phòng thủ dân sự năm 2023, sửa đổi bổ sung năm 2025 thì định nghĩa tại khoản 4 Điều 2 như sau: “Đối tượng dễ bị tổn thương là người, nhóm người có đặc điểm và hoàn cảnh khiến họ có khả năng phải chịu nhiều tác động bất lợi hơn từ sự cố, thảm họa so với những nhóm người khác trong cộng đồng, bao gồm trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người khuyết tật, người bị bệnh hiểm nghèo, người nghèo, người mất năng lực hành vi dân sự, người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, người sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật”.
Về mặt khoa học pháp lý, một số tác giả cho rằng “Nhóm dễ bị tổn thương” được hiểu là “nhóm xã hội có điểm đặc thù so với các thành viên khác trong cộng đồng, có vị thế chính trị – xã hội, điều kiện kinh tế hoặc các điều kiện sống khác thấp hơn, do đó có nguy cơ cao bị vi phạm quyền, bị bỏ mặc hoặc bị lãng quên trong thụ hưởng các quyền con người”[3].
Đối chiếu với các quy định của Nghị quyết 205 và Thông tư liên tịch số 09/2025/TTLT ngày 03/11/2025 Hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 205/2025/QH15 (Thông tư liên tịch số 09/2025) thì các văn bản này dùng phương pháp liệt kê để mô tả nhóm dễ bị tổn thương, gồm: Trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và người mất năng lực hành vi dân sự và người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nhóm dễ bị tổn thương trong văn bản này không hoàn toàn trùng khớp với các luật trên, cụ thể so với Luật Phòng, chống thiên tai; Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Luật Phòng thủ dân sự thì không có nhóm chủ thể: “người sinh sống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật”, hay cũng không có nhóm “người bị bệnh hiểm nghèo”, “người nghèo”, “thành viên hộ nghèo”.
Từ nghiên cứu các quy phạm trên, có thể đưa ra một khái niệm phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 205 là: “Nhóm dễ bị tổn thương là người, nhóm người có đặc điểm và hoàn cảnh khiến họ có nguy cơ cao dễ bị xâm phạm hoặc hạn chế quyền và được pháp luật liên quan đến quyền con người ghi nhận cần được bảo vệ đặc biệt”.
Về vấn đề chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương theo Nghị quyết 205 chưa có sự đồng nhất với các văn bản pháp luật hiện hành, Viện trưởng Kiểm sát nhân dân tối cao nhận định “đây là vấn đề rất lớn và rất rộng, nhưng vì thí điểm cho nên Ban soạn thảo chỉ lựa chọn một số để thí điểm. Tới đây khi thí điểm thành công và xây dựng luật, với ý kiến các đại biểu đã đóng góp, sẽ tiếp tục nghiên cứu và bổ sung”[4].
- Nhận diện các chủ thể thuộc Nhóm dễ bị tổn thương và quyền dân sự đặc trưng của họ
3.1 Trẻ em
Luật Trẻ em năm 2016 quy định “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Dưới góc độ xã hội học trẻ em là nhóm trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người, có những đặc điểm về sức khoẻ, tâm sinh lý khác với nhóm khác trong xã hội và được hưởng những quy chế pháp lý đặc thù.
Luật Trẻ em cũng quy định trẻ em có quyền: Được sống; khai sinh và có quốc tịch, được chăm sóc sức khoẻ; được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu; quyền về tài sản; được sống chung với cha mẹ; được bảo vệ để không bị xâm hại;được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động; được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc; được bảo vệ để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt; được bảo vệ để khỏi chất ma tuý; được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang; được bảo đảm an sinh xã hội…[5]
Chính do bản thân trẻ em là đối tượng còn non nớt, phụ thuộc nhiều vào gia đình và xã hội, có nguy cơ cao bị bỏ lại phía sau khi quyền dân sự bị vi phạm trong khi khả năng tự bảo vệ quyền rất hạn chế, việc Viện kiểm sát nhân dân đóng vai trò rõ ràng khi bảo vệ quyền của các em là rất cần thiết.
3.2 Người cao tuổi
Theo quy định của Luật Người cao tuổi năm 2009 thì “Người cao tuổi được quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”.
Theo luật này thì người cao tuổi có quyền: Được bảo đảm các nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại, chăm sóc sức khoẻ; được ưu tiên khi sử dụng các dịch vụ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; được tạo điều kiện tham gia hoạt động văn hoá, giáo dục…và nghỉ ngơi; được miễn các khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội, trừ trường hợp tự nguyện đóng góp; được ưu tiên nhận tiền, hiện vật cứu trợ, chăm sóc sức khỏe và chỗ ở nhằm khắc phục khó khăn ban đầu khi gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc rủi ro bất khả kháng khác,…[6]
Dù được bảo đảm quyền an sinh, chăm sóc y tế và hỗ trợ xã hội, nhưng trên thực tế, nhiều người cao tuổi thường đối diện với suy giảm sức khỏe, phụ thuộc kinh tế, không có điều kiện tiếp cận pháp lý, hoặc e ngại việc tố tụng kéo dài, nguy cơ cao bị xâm phạm quyền đặc trưng và các quyền dân sự khác. Do đó, sự tham gia chủ động của Viện kiểm sát là cơ chế bảo vệ hữu hiệu, góp phần bảo đảm tôn trọng nhân phẩm và an toàn pháp lý cho người cao tuổi.
3.3 Người khuyết tật
Luật Người khuyết tật năm 2010 định nghĩa: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”.
Luật này quy định họ có quyền: Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội; sống độc lập, hòa nhập cộng đồng; được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, …và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật;…[7]
3.4 Phụ nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi
Theo pháp luật Việt Nam, không có định nghĩa riêng biệt cho “phụ nữ đang mang thai” hay “đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi” mà chủ yếu xác định dựa trên trạng thái sinh học (có thai và mang bào thai) hoặc xác minh đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi để áp dụng các chế độ bảo vệ đặc thù.
Đối với nhóm này, Nhà nước ta ban hành nhiêu luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ như: Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định chính sách của Nhà nước là “Bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ”. Bộ luật Lao động năm 2019 quy định tại Chương X đối với lao động nữ như bảo vệ thai sản, nghỉ thai sản, trợ cấp trong thời gian chăm sóc con ốm đau,….Hay Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng bảo vệ phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ khi giải quyết ly hôn hay nuôi con sau khi ly hôn,…[8]
3.5 Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và người mất năng lực hành vi dân sự
Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi xác định là: “Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” theo Điều 23 Bộ luật Dân sự.
Người mất năng lực hành vi dân sự là: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần” theo Điều 22 Bộ luật Dân sự.
Dù không có pháp luật chuyên ngành quy định riêng về quyền của đối tượng này, song họ cũng có quyền, lợi ích hợp pháp như những chủ thể khác trong xã hội mà Hiến pháp và luật pháp nói chung quy định cho họ.
3.6 Người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật
Thông tư liên tịch số 09/2025 làm rõ đối tượng này như sau: “Người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 3 của Nghị quyết số 205 là người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý. Vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn được xác định theo quy định của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ”. Theo đó, làm rõ một số khái niệm:
– Nghị định 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về Công tác dân tộc xác định “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Như vậy, ở nước ta dân tộc Kinh là dân tộc đa số, còn lại 53 dân tộc khác là các dân tộc thiểu số.
– Vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT ngày 17/01/2012 của Bộ Tư pháp và Ủy ban Dân tộc hướng dẫn thực hiện trợ giúp pháp lý đối với người dân tộc thiểu số quy định người dân tộc thiểu số được hưởng trợ giúp pháp lý gồm: “Người thường xuyên sinh sống (đã đăng ký thường trú, đã đăng ký tạm trú hoặc có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn) ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn (xã, phường, thị trấn thuộc vùng khó khăn và xã, thôn, bản có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn) theo quy định của pháp luật”. Vì vậy, hiện nay “vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn” trong Thông tư liên tịch này bao gồm các đơn vị hành chính sau đây:
(1) Xã, phường, thị trấn thuộc vùng khó khăn: theo Quyết định số 1010/QĐ-TTg ngày 10/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về đơn vị hành chính cấp xã thuộc vùng khó khăn.
(2) Xã đặc biệt khó khăn: Các xã có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn thuộc vùng dân tộc và miền núi là các xã khu vực III được quy định tại Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025. Các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo là các xã được quy định tại Quyết định số 353/QĐ-TTg ngày 15/03/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt danh sách các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo giai đoạn 2021-2025.
(3) Thôn đặc biệt khó khăn: được quy định tại Quyết định số 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025.
Tuy nhiên, các văn bản này đều được ban hành trên cơ sở mô hình tổ chức chính quyền ba cấp (tỉnh – huyện – xã), hiện đã không còn phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025, hiện cũng chưa có quyết định nào mới được ban hành kịp thời để thay thế hoặc cập nhật danh sách xã, thôn đặc biệt khó khăn theo mô hình tổ chức mới. Trong khi đó, theo Nghị định số 124/2025/NĐ-CP thì việc phê duyệt danh sách xã khu vực III, II, I và công nhận thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2025 thuộc về Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.[9] Như vậy, khi xác định đối tượng là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp Viện kiểm sát khởi kiện vụ án dân sự công ích để bảo vệ, các cán bộ ngành Kiểm sát nhân dân cần hết sức quan tâm đến các văn bản quy định vấn đề này, đảm bảo đúng đối tượng, không để bỏ sót hoặc lãng phí nguồn lực.
Bên cạnh những quyền dân sự như những chủ thể khác được bảo vệ bởi pháp luật, họ cũng được trao thêm nhiều quyền lợi, ưu đãi khác trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế sức khỏe, kinh tế văn hóa, xã hội, lao động, việc làm như: Nghị định 57/2017/NĐ-CP quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập đối với trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người; Quyết định 2415/QĐ-BYT năm 2022 hướng dẫn thực hiện Dự án 7 – Chăm sóc sức khỏe nhân dân, nâng cao thể trạng, tầm vóc người dân tộc thiểu số; phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030; Quyết định 3875/QĐ-BVHTTDL năm 2022 phê duyệt Đề án “Bảo tồn và phát huy giá trị văn học dân gian của các dân tộc thiểu số đến năm 2030” do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành;… Tuy nhiên, nếu không có cơ chế bảo vệ phù hợp, các quyền này có thể không được thực thi đầy đủ.
- Ý nghĩa của việc nhận diện các chủ thể thuộc Nhóm dễ bị tổn thương và quyền dân sự đặc trưng của họ
Việc xác định đúng đối tượng chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương và các quyền dân sự của họ có thể bị xâm phạm, có ý nghĩa trực tiếp và quyết định, đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả khi thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự công ích của Viện kiểm sát, thể hiện ở các nội dung sau:
Thứ nhất, nhận diện đúng chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương và các quyền dân sự của họ bị xâm phạm sẽ đảm bảo cho việc xác định đúng phạm vi bảo vệ theo quy định của Nghị quyết 205, không khởi kiện vượt quá thẩm quyền, không đủ điều kiện để khởi kiện hoặc không đúng đối tượng. Việc xác định này còn góp phần hình thành tiêu chí thống nhất trong toàn ngành Kiểm sát, hạn chế sự khác biệt trong áp dụng pháp luật giữa các địa phương.
Thứ hai, đối với các đối tượng thuộc các nhóm chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương khác nhau, căn cứ vào đặc điểm tâm lý và tình trạng dễ tổn thương, quá trình giải quyết Viện kiểm sát sẽ có các biện pháp bảo vệ, có phương pháp thu thập chứng cứ, nguồn chứng cứ cần tiếp cận phù hợp.
Ví dụ: Đối với trẻ em, cần áp dụng phương pháp lấy lời khai thân thiện, sử dụng ngôn ngữ đơn giản, hạn chế đối chất trực tiếp; ưu tiên thu thập chứng cứ gián tiếp từ gia đình, nhà trường, bệnh viện, cơ quan quản lý trẻ em; bảo đảm có người đại diện hoặc người bảo vệ quyền lợi hợp pháp tham gia để tránh gây tổn thương tâm lý…. Đối với người cao tuổi: chú trọng tình trạng sức khỏe, khả năng nhận thức, khả năng di chuyển; tạo điều kiện tham gia tố tụng đơn giản, linh hoạt, đồng thời xem xét các quyền trợ giúp xã hội, bảo trợ y tế liên quan. Đối với người khuyết tật: cần đánh giá dạng tật và mức độ khuyết tật để lựa chọn cách thức làm việc phù hợp (phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu, tài liệu dễ tiếp cận, hỗ trợ di chuyển…); phối hợp với cơ quan nội vụ, hội bảo trợ người khuyết tật, cơ quan giám định để thu thập tài liệu khách quan. Đối với phụ nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi: ưu tiên bảo đảm điều kiện sức khỏe; hạn chế các thủ tục kéo dài; cân nhắc biện pháp tạm thời nhằm bảo vệ quyền lợi gắn với con nhỏ; đồng thời áp dụng các quy định chuyên ngành về lao động, hôn nhân và gia đình. Đối với người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn: chú ý rào cản ngôn ngữ, phong tục tập quán, điều kiện tiếp cận dịch vụ công; khi cần thiết, sử dụng người phiên dịch, người có uy tín trong cộng đồng,…. Từ đó sẽ nâng cao được hiệu quả của việc kiểm tra, xác minh thu thập chứng cứ để khởi kiện vụ án dân sự; xác định được vấn đề đặc thù cần xác minh đối với từng loại đối tượng; tiếp cận đúng nguồn cung cấp chứng cứ, tiết kiệm được thời gian, chi phí, hạn chế được việc tác động tâm lý không cần thiết đến các đối tượng bị tổn thương.
Thứ ba, Viện kiểm sát khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương, là những người yếu thế trong xã hội; việc bảo vệ quyền lợi của họ nhằm hướng tới bảo vệ các giá trị xã hội và mục tiêu công bằng, nhân đạo trong cộng đồng, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội trong việc đấu tranh phòng ngừa các hành vi xâm phạm quyền dân sự của công dân. Bởi vậy, việc nhận diện được các chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương có tác động quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và tính thuyết phục của việc khởi kiện vụ án dân sự.
Khi quyền dân sự của nhóm yếu thế được bảo vệ hiệu quả, pháp luật không chỉ dừng lại ở việc điều chỉnh quan hệ xã hội mà còn đóng vai trò tạo cơ hội bình đẳng trong tiếp cận pháp luật[10] – đây chính là giá trị cốt lõi của Nhà nước pháp quyền.
Từ góc độ quyền con người, việc nhận diện chính xác nhóm dễ bị tổn thương thể hiện sự chuyển đổi quan điểm từ “tiếp cận trợ cấp” sang “tiếp cận dựa trên quyền”[11], nghĩa là, họ không chỉ là đối tượng được hỗ trợ, mà là những chủ thể có quyền hiến định cần được Nhà nước bảo vệ bằng những cơ chế tố tụng đặc biệt. Cách tiếp cận này phù hợp với xu thế quốc tế, đồng thời khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc thực thi các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.
Thứ tư, đối với mỗi chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương khác nhau sẽ được điều chỉnh bởi hệ thống các quy định của pháp luật có tính đặc thù riêng (Bộ luật Dân sự, Luật Trẻ em, Luật Người cao tuổi, Luật Người khuyết tật, Luật Hôn nhân và gia đình,…), bởi vậy việc nhận diện đúng đối tượng thuộc nhóm dễ bị tổn thương, yếu thế cần được bảo vệ có ý nghĩa quan trọng về nghiệp vụ trong việc nghiên cứu, nhận diện hành vi vi phạm và áp dụng các quy định của pháp luật phù hợp. Khi Viện kiểm sát khởi kiện và Tòa án xét xử nhiều vụ án liên quan đến nhóm dễ bị tổn thương, các quyết định có giá trị tham khảo cao sẽ dần hình thành. Đây là cơ sở để Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành hướng dẫn nghiệp vụ thống nhất, giải thích pháp luật và thậm chí phát triển án lệ.
Thứ năm, trong quá trình tiếp nhận, khởi kiện vụ án dân sự công ích để bảo vệ quyền của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương nói riêng và trong việc giải quyết các vụ việc, vụ án nói chung, Viện kiểm sát nhân dân cũng cần tiếp tục chú ý đến các chủ thể chưa được quy định trong Nghị quyết 205 như “người bị bệnh hiểm nghèo”, “người nghèo”, “người sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn,…” nhằm tạo cơ sở thực tiễn quan trọng giúp cơ quan lập pháp đánh giá, điều chỉnh, mở rộng chính sách theo hướng phù hợp hơn, tạo nền tảng cho hoàn thiện pháp luật về tố tụng dân sự công ích trong tương lai của ngành Kiểm sát nhân dân.
Quản Trọng Hiếu – VKSND khu vực 5 Quảng Ninh

Tin tức mới nhất
Nhận diện các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương theo Nghị quyết 205/2025/QH15 ngày 24/6/2026 của Quốc hội
Cở sở lý luận và quy định của chế định Viện kiểm sát nhân dân...
Th6
Công khai tình hình xử lý tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị
2026 -04c Công khai tình hình xử lý tài sản (chuyển giao 11 cơ sở...
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh trực tiếp kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh
Thực hiện Kế hoạch công tác năm 2026, từ ngày 03/6/2026 đến ngày 05/6/2026, Phòng...
Th6
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh phê chuẩn Quyết định khởi tố bị can trong vụ án thu thập, tàng trữ trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng
Ngày 22/4/2026, Công an tỉnh Quảng Ninh kiểm tra cửa hàng TCREDIT 247 tại phường...
Th6
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh công bố Quyết định trực tiếp kiểm sát thi hành án phạt tù tại Trại giam Quảng Ninh
Thực hiện Kế hoạch công tác năm 2026, sáng ngày 08/6/2026, Viện kiểm sát nhân...
Th6
Phân đoàn thanh niên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Quảng Ninh tham gia Chương trình ra quân hưởng ứng phong trào thi đua “Toàn dân chung tay bảo vệ môi trường, vì một Việt Nam xanh – sạch – đẹp”
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về tăng cường công tác bảo vệ...
Th6
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Quảng Ninh tổ chức thành công cuộc thi ứng dụng AI xây dựng báo cáo án bằng sơ đồ tư duy
Thực hiện Kế hoạch số 24/KH-VKS ngày 14/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND)...
Th6
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tổ chức Hội nghị tập huấn về triển khai thực hiện bảo vệ bí mật nhà nước năm 2026
Vừa qua, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Quảng Ninh đã tổ chức Hội...
Th6
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tiếp công dân đề nghị xét lại bản án có hiệu lực pháp luật theo Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2025, kể...
Th6