Quay về You are here: Home Nghiên cứu pháp luật Vai trò của Quốc hội trong chống tham nhũng Kinh nghiệm của Ucraina và những cơ hội cho Việt Nam

Vai trò của Quốc hội trong chống tham nhũng Kinh nghiệm của Ucraina và những cơ hội cho Việt Nam

Tham nhũng là một hiện tượng xã hội phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực đến tất cả khía cạnh của sự phát triển chính trị và kinh tế-xã hội của quốc gia và toàn xã hội. Tham nhũng bao gồm cả các hoạt động bất hợp pháp và cả những hành vi phi đạo đức. Trong tài liệu của cộng đồng quốc tế có nhấn mạnh rằng tham nhũng đe dọa pháp chế, dân chủ và nhân quyền, ngăn chặn cạnh tranh và phát triển trong kinh tế , đe dọa sự ổn định của các định chế dân chủ, có tác động tiêu cực đến các nền kinh tế và chính trị, làm xói mòn hiệu quả của các quyết định và chương trình chính phủ, gây tổn hại đạo đức trong cộng đồng, loại bỏ sự tin tưởng của công dân vào quyền lực của chính phủ nói chung, làm xói mòn các nguyên tắc của công lý và công bằng tư pháp. Nếu nói về tình hình ở Ucraina ngày nay thì tham nhũng đã trở thành một trong những mối đe dọa an ninh quốc gia, tác động của tham nhũng đối với xã hội Ucraina và quốc gia có tính chất hệ thống tổng thể. Vì như vậy, nên theo ước tính tối thiểu thì hàng năm xã hội Ucraina mất khoảng 20 tỷ hryvnia (2,5 tỷ USD), số tiền đó không được nhập vào ngân sách nhà nước do hậu quả của hành vi tham nhũng. Theo số liệu khảo sát do Tổ chức Minh bạch quốc tế thực hiện, chỉ số tham nhũng trong năm 2011 của Ucraina là 2.3, theo đó thì Ucraina đứng thứ vị trí 152 bảng xếp hạng mức độ tham nhũng trên tổng số 182 quốc gia trên khắp thế giới. Chỉ số tham nhũng năm 2011 tại Việt Nam là 2,9, thì vị trí của Việt Nam trong bảng xếp hạng tham nhũng toàn cầu là 112, điều này cho thấy một vấn đề cần được lưu ý ở đây là tình hình tham nhũng ở Ucraina và Việt Nam có thể tương đồng trong nhiều khía cạnh. Với tình trạng này, theo các chuyên gia, yêu cầu phải sử dụng các biện pháp toàn diện để chống tham nhũng. Hoạt động chuẩn mực hóa của nghị viện Ucraina có ý nghĩa rất lớn trong việc tổ chức cuộc chiến chống tham nhũng ở Ucraina. Năm 2010, Quốc hội (VerkhovnaRada) của Ucraina đã thông qua Luật mới "Về các nguyên tắc chính sách đối nội và đối ngoại", theo đó việc giảm mức độ tham nhũng ở giai đoạn phát triển này của xã hội Ucraina là một trongnhững mục tiêu quan trọng nhất để thúc đấy phát triển nhà nước Ucraina. Vì vậy, các nguyên tắc phòng ngừa và chống hành vi tham nhũng của Ucraina phần lớn là chính sách cấp quốc gia. Dựa trên nền tảng chính sách phòng chống tham nhũng,đã đặt ra nguyên tắc để đảm bảo tính minh bạch và sự công khai cấp chính phủ, cũng như nâng cao trách nhiệm của các công chức nhà nước. Việc thực hiện này liên quan trực tiếp đến sự hình thành luật pháp thích hợp để bảo đảm thi hành các biện pháp trong hệ thống phòng ngừa,ngăn chặn tham nhũng, thực thi pháp luật và trấn áp. Ủy ban chống tội phạm có tổ chức và tham nhũng đang hoạt động trong khuôn khổ của Quốc hội (VerkhovnaRada) Ucraina. Chính Ủy ban này đã đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển Luật chống tham nhũng hiện hành. Trong quá trình làm việc với các dự thảo văn bản pháp lý mới, các nhà lập pháp đã nghiên cứu cẩn thận và học hỏi kinh nghiệm của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực đấu tranh chống tham nhũng. Như vậy, những quy định cơ bản của luật pháp mới của Ucraina đều có tính đến các tiêu chí luật pháp quốc tế và các tiêu chuẩn châu Âu. Hiện nay, nghị viện Ucraina đang làm việc để hoàn thiện nền tảng luật pháp hiệu lực nhằm phát triển quan hệ xã hội trong nước và các nghĩa vụ pháp lý quốctế của Ucraina. Cải cách Luật chống tham nhũng Ucraina đã được thực hiện dựa vào kinh nghiệm của Anh, Pháp, Đức, Ý, Hoa Kỳ và các nước khác. Viện nghiên cứu lập pháp thuộc Quốc hội Ucraina là cấu trúc cơ bản trong việc hỗ trợ khoa học pháp lý bảo đảm cho hoạt động lập pháp của Quốc hội Ucraina, cũng như tích cực tham gia vào sự hình thành Luật chống tham nhũng. Trong vài năm qua, Viện nghiên cứu lập pháp đã chuẩn bị một số ấn phẩm về phòng chống tham nhũng, trong đó cần lưu ý cuốn sách "Các văn bản pháp lý quốc tế trong lĩnh vực chống tham nhũng." Ngoài ra, Viện nghiên cứu lập pháp còn hợp tác với một số tổ chức nghiên cứu khoa học. Ví dụ như, thông qua hợp tác với Viện Luật pháp Đông Âu tại Munich,và nhờ sự hỗ trợ của Ủy ban trao đổi học thuật Cộng hoà liên bang Đức,hội nghị khoa học và thực hành ba bên "Các khía cạnh pháp lý của cuộc chiến chống tham nhũng: kinh nghiệm của Ucraina, Đức và BaLan" đã được thực hiện trong tháng 6 năm 2011. Lịch sử hình thành cơ sở pháp luật nhà nước trong lĩnh vực phòng chống tham nhũng bắt đầu với việc thông qua Luật của Ucraina "Về chống tham nhũng” ngày 5 tháng 10 năm 1995. Trong phần mở đầu có nói rằng đạo luật này xác định các nguyên tắc cơ bản về pháp lý và tổ chức phòng chống tham nhũng; xác định và loại trừ các hành vi tham nhũng; khôi phục các quyền lợi pháp lý, lợi ích của cá nhân và pháp nhân; cũng như loại trừ hậu quả của các hành vi tham nhũng. Kể từ khi thông qua, Luật này đã được sửa đổi không ít lần vì có nhiều nhận xét góp ý của các luật gia, chính trị gia và đại diện các tổ chức xã hội. Khiếm khuyết cơ bản nói chung của Luật này là nhiều điều khoản không phù hợp các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế để ngăn chặn và chống tham nhũng. Ngoài ra, Luật này còn có khiếm khuyết là chỉ ra danh sách các hành vi tham nhũng quá hẹp, cũng như không tách biệt rõ ràng các loại hành vi tham nhũng dựa vào quan điểm từ ý nghĩa thực tế của tham nhũng; phân biệt không đầy đủ các đối tượng chịu trách nhiệm hành vi tham nhũng; không thừa nhận các pháp nhân cũng có thể là đối tượng chịu trách nhiệm hành vi tham nhũng v.v. Cơ sở pháp lý quốc tế của luật pháp chống tham nhũng Ucraina Kể từ khi Ucraina thông qua đạo luật này, với tư cách là thành viên Liên Hợp Quốc và Hội đồng châu Âu, đã ghi nhận một số cam kết có tính quốc tế của Ucraina trong lĩnh vực đấu tranh chống tham nhũng. Đặc biệt, trong thời gian từ năm 2005 đến năm 2010, Ucraina đã phê chuẩn các điều ước quốc tế sau đây: Công ước LHQ chống tham nhũng năm 2003, Công ước Dân sự chống tham nhũng và Công ước Hình sự chống tham nhũng năm 1999, Công ước về tội phạm mạng năm 2001 và Nghị định thư bổ sung cho Công ước về tội phạm mạng năm 2003, Công ước của Hội đồng châu Âu về việc rửa, tìm kiếm, thu giữ và tịch thu số tiền thu được từ tội phạm và tài trợ khủng bố năm 2005. Ngày 1 tháng 1 năm 2006, Ucraina gia nhập Nhóm các quốc gia chống tham nhũng (GREKO) được thành lập bởi Hội đồng châu Âu với mục tiêu tăng cường cuộc chiến chống tham nhũng, tuân thủ các quyết định cấp nhà nước, cũng như khai thác các biện pháp chống tham nhũng hiệu quả. GRECO thường xuyên phân tích pháp luật Ucraina và việc thực hành áp dụng Luật đó, cũng như đưa ra nhiều khuyến nghị để hoàn thiện luật pháp nói chung. Cải cách Luật chống tham nhũng Ucraina Ngày 11 tháng 6 năm 2009, Quốc hội Ucraina đã thực hiện nỗ lực đầu tiên để hoàn thiện các cơ chế pháp lý chống tham nhũng và đã thông qua gói pháp luật chống tham nhũng để thay thế Luật "Về chống tham nhũng" năm 1995 đã lỗi thời. Đặc biệt, Ucraina đã thông qua Luật "Về nguyên tắc phòng ngừa và chống tham nhũng", "Về trách nhiệm của các pháp nhân phạm tội tham nhũng" và "Về việc sửa đổi một số văn bản luật của Ucraina liên quan đến trách nhiệm pháp lý đối với tội phạm tham nhũng". Tuy nhiên, trong năm 2010, một số quy định của pháp luật nêu trên bị xác nhận là vi hiến. Pháp luật chống tham nhũng hiện hành của Ucraina Ngày 17 tháng 12 năm 2010, Tổng thống Ucraina đề nghị Quốc hội xem xét bản dự thảo Luật "Về các nguyên tắc phòng ngừa và chống tham nhũng", Luật này đã được Quốc hội thông qua ngày 7 tháng 4 năm 2011 cùng với Luật "Về việc sửa đổi một số văn bản luật của Ucraina liên quan đến trách nhiệm pháp lý đối với tội phạm tham nhũng". Việc soạn thảo đạo luật này là kết quả của công việc mang tính hệ thống và tổng thể của Ủy ban Chống tham nhũng quốc gia (sau đây gọi là Ủy ban), được thành lập vào tháng 2 năm 2010 theo quyết định của Tổng thống số 275/2010. Trong khuôn khổ hoạt động của Ủy ban, nhiều cơ quan công quyền (các bộ, các cơ quan công tố, các ủy ban trong Quốc hội), các học giả hàng đầu của quốc gia và đại diện các tổ chức xã hội đã tham gia làm việc cùng với Ủy ban để hoàn thiện Luật chống tham nhũng hiện nay và soạn thảo các sáng kiến về luật để trình nghị viện. Song song như vậy còn phải kể đến các công trình nghiên cứu kỹ lưỡng và sử dụng kinh nghiệm quốc tế tốt nhất và kiến nghị của các tổ chức quốc tế hàng đầu. Những thay đổi trong luật pháp, do Uỷ ban này soạn thảo theo sáng kiến của người đứng đầu Nhà nước, được xem xét bởi các chuyên gia của Nhóm các quốc gia chống tham nhũng của Hội đồng châu Âu (GREKO), phù hợp với Kế hoạch hành động "Ukraine - Hội đồng châu Âu", đồng thời kiểm tra việc hoàn thành cam kết quốc tế của Ucraina. Luật chống tham nhũng mới có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2011, tuy nhiên, một số quy định của Luật pháp Ucraina "Về các nguyên tắc phòng chống tham nhũng" liên quan đến kiểm tra đặc biệt và kiểm soát tài chính có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2012. Nhìn chung, Quốc hội đã phê chuẩn đạo luật phòng chống tham nhũng của Ucraina bao gồm nhiều luật và các điều ước quốc tế của Ucraina, cũng như phê duyệt nhiều văn bản pháp lý khác để đưa vào thi hành. Như vậy, liên quan đến Luật chống tham nhũng của Ucraina còn bao gồm những quy định luật pháp gián tiếp khác nhằm mục đích phòng ngừa tham nhũng, vì các quy định đó điều chỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh vực công quyền, thiết lập các yêu cầu đặc biệt và hạn chế hoạt động của công chức và những người khác có thẩm quyền thực hiện chức năng nhà nước. Ví dụ, Luật của Ucraina "Về công vụ nhà nước", "Về cơ quan công tố", "Về quy chế của đại biểu nhân dân Ucraina", "Về quy chế Thẩm phán", "Về công an", "Về cơ quan thuế quốc gia Ucraina" và nhiều luật khác. Liên quan đến văn bản pháp lý hướng đến phòng chống tham nhũng còn có thể bao gồm một số các quy định dưới luật điều chỉnh trình tự công vụ nhà nước, cấp giấy chứng nhận và luân chuyển cán bộ nhà nước, v.v. Hiện nay, điều khoản về các biện pháp phòng chống tham nhũng có trong hơn một trăm văn bản pháp lý. Đặc tính Luật của Ucraina "Về nguyên tắc phòng, chống tham nhũng" Trong lời mở đầu của Luật chống tham nhũng mới có quy định rằng điều khoản của đạo luật này xác định các nguyên tắc cơ bản phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng thuộc lĩnh vực công và tư nhân trong các mối quan hệ xã hội, bồi thường thiệt hại do hậu qủa hành vi phạm tội tham nhũng, phục hồi các quyền bị vi phạm, tự do hay lợi ích của các cá nhân, quyền hoặc lợi ích của pháp nhân, lợi ích của nhà nước. Theo Điều 1 của Luật này, tham nhũng là lạm dụng quyền hạn công vụ và các cơ hội liên quan đến quyền này để giành lợi ích không bất hợp pháp, hoặc chấp nhận lời hứa/lời đề nghị cung cấp lợi ích bất hợp pháp cho chính mình hoặc người khác, hoặc là đáp ứng thỏa đáng lời hứa/lời đề nghị, hoặc theo lời đề nghị của người đó mà cung cấp cho pháp nhân hoặc cá nhân lợi ích bất hợp pháp, với mục đích thuyết phục pháp nhân và cá nhân phạm pháp khi sử dụng quyền công vụ và các cơ hội liên quan. Luật này quy định những nguyên tắc cơ bản trong chính sách chống tham nhũng mới của Ucraina: - Tính tối thượng của luật pháp; - Tính pháp chế; - Thực hiện tổng thể các biện pháp về luật, chính trị, kinh tế xã hội, thông tin và các biện pháp khác một cách toàn diện; - Ưu tiên các biện pháp phòng ngừa; - Sự trừng phạt đối với tội phạm tham nhũng là không thể tránh khỏi; - Sự cởi mở và minh bạch của cơ quan công quyền và chính quyền địa phương; - Cộng đồng tham gia vào các sự kiện để ngăn chặn và chống tham nhũng, bảo vệ theo mức quốc gia các cá nhân tham gia giúp đỡ thực hiện các biện pháp đó; - Đảm bảo việc khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp, bồi thường thiệt hại và mất mát gây ra bởi hành vi phạm tội tham nhũng (Điều 3). Quy định chính của Luật chống tham nhũng mới có thể được kết luận như sau: - Mở rộng đáng kể danh sách các đối tượng chịu trách nhiệm hành vi phạm tội tham nhũng; - Định nghĩa rõ ràng các đối tượng thực hiện biện pháp phối hợp và giám sát các hoạt động phòng chống tham nhũng; - Xác định các biện pháp để ngăn chặn và chống tham nhũng, đặc biệt là hạn chế: sử dụng vị trí công vụ có cùng hoặc kiêm nhiệm chức vụ khác, người thân làm việc cùng nhau, nhận quà cáp; cũng như hạn chế trong quan hệ với các đối tượng đã nghỉ hưu hoặc ngưng hoạt động có liên quan đến việc thực hiện chức năng nhà nước hoặc chính quyền địa phương; - Thực hiện thẩm định chống tham nhũng các dự thảo văn bản luật; - Thi hành trình tự kiểm soát tài chính mới, quy định kê khai tài sản, doanh thu, chi phí và các nghĩa vụ có tính chất tài chính; - Sự tham gia của công chúng trong các biện pháp ngăn ngừa và chống tham nhũng; - Phân định ranh giới trách nhiệm hành chính và hình sự đối với tội phạm tham nhũng. Theo Luật mới, đối tượng của hành vi phạm tội tham nhũng không chỉ là các quan chức chính phủ và những người thực hiện chức năng nhà nước, mà còn là các quan chức thuộc pháp nhân luật tư, cũng như các thể nhân và pháp nhân khác có liên quan đến hành vi phạm tội tham nhũng. Như vậy, Luật mới xác định nhóm các đối tượng chịu trách nhiệm về hành vi tham nhũng, bao gồm: 1) Người được ủy quyền để thực hiện các chức năng của chính phủ hoặc chính quyền địa phương, bao gồm Tổng thống Ucraina, Chủ tịch Quốc hội Ucraina, Thủ tướng Chính phủ Ucraina, các thành viên chính phủ khác và lãnh đạo các cơ quan hành pháp; 2) Những đối tượng có quyền ngang bằng các đối tượng được ủy quyền để thực hiện các chức năng của chính phủ hoặc chính quyền địa phương, bao gồm các quan chức thuộc pháp nhân luật công, cán bộ cung cấp dịch vụ công cộng (kiểm toán viên, công chứng viên, các chuyên gia và những người khác), các quan chức của chính phủ nước ngoài và các tổ chức quốc tế; 3) Những đối tượng thường xuyên hoặc tạm thời giữ vị trí liên quan việc thực hiện chức năng tổ chức-quản lý hoặc nghĩa vụ hành chính-kinh tế, hoặc những người được ủy quyền đặc biệt thực hiện các nhiệm vụ đó trong pháp nhân luật tư, không phân biệt hình thức pháp lý, phù hợp với quy định của pháp luật; 4) các quan chức thuộc pháp nhân luật tư, cũng như những cá nhân - trong trường hợp nhận được từ những người được nêu trên, hoặc có sự trợ giúp của họ để giành lợi ích bất hợp pháp (Điều 4). Luật cũng quy định hệ thống tương tác giữa các cơ quan nhà nước và các cơ quan thực thi pháp luật trong vấn đề ngăn ngừa và đấu tranh chống tham nhũng. Luật này xác định nhóm các chu thể có thể thực hiện các biện pháp phòng chống tham nhũng. Trong số đó, đặc biệt là Tổng thống Ucraina, Quốc hội Ucraina, chính phủ Ucraina, cũng như cơ quan công quyền trong phạm vi quyền hạn của mình theo quy định của Hiến pháp, luật pháp và các văn bản pháp lý dưới luật của Ucraina. Đồng thời việc phối hợp thực hiện chiến lược chống tham nhũng của các cơ quan hành pháp, do Tổng thống Ucraina phê chuẩn, được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền đặc biệt về chính sách chống tham nhũng. Cơ quan này do Tổng thống Ucraina thành lập và hoạt động theo luật pháp được quy định. Các biện pháp để xác định, ngăn chặn và điều tra tội phạm tham nhũng do các tổ chức được ủy quyền trực tiếp thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đó. Các cơ quan đặc biệt có thẩm quyền đó, theo định nghĩa trong luật, là Viện kiểm sát các cấp, các đơn vị đặc biệt chống tội phạm có tổ chức thuộc Bộ Nội vụ Ucraina và các đơn vị cảnh sát thuế, các đơn vị chống tham nhũng và tội phạm có tổ chức thuộc cơ quan an ninh quốc gia Ucraina, đơn vị quân đội đặc biệt bảo vệ luật pháp trong lực lượng vũ trang Ucraina, cũng như đơn vị an ninh nội bộ cơ quan hải quan. Viện kiểm sát tối cao của Ucraina và các công tố viên cấp dưới thực hiện phối hợp hoạt động cùng các cơ quan bảo vệ pháp luật chống tham nhũng trong giới hạn thẩm quyền theo quy định của pháp luật, (Điều 5). Ngoài ra, Luật này còn quy định các biện pháp nhằm ngăn chặn và hạn chế tham nhũng. Cũng như vậy, các quy định của Luật còn hướng đến việc hạn chế sử dụng quyền công vụ đối với công chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc địa phương. Đặc biệt, họ đều bị cấm sử dụng quyền hạn của mình hoặc các cơ hội liên quan để giành lợi ích bất hợp pháp hoặc dính líu đến việc nhận lời cam kết/lời đề nghị cung cấp lợi ích như thế cho bản thân hoặc người khác, bao gồm: 1) Hợp tác bất hợp pháp với các cá nhân hoặc pháp nhân trong việc thực hiện các hoạt động kinh tế, nhận trợ cấp, tài trợ, vay vốn, nhượng bộ, ký kết hợp đồng (ví dụ như mua hàng hoá, công việc và dịch vụ bằng vốn của nhà nước); 2) Tác động bất hợp pháp quy trình bổ nhiệm chức quyền; 3) Can thiệp bất hợp pháp các hoạt động của cơ quan chính quyền nhà nước, chính quyền địa phương hoặc các quan chức; 4) Cung cấp bất hợp pháp lợi thế cho những cá nhân và pháp nhân liên quan tới việc chuẩn bị dự án, việc thông qua các văn bản pháp luật và các quyết định, liên quan đến chuẩn y (phê duyệt) các kết luận (điều 6). Những tiêu chí này đảm bảo việc nâng cao trách nhiệm các đối tượng được nêu trên về tính hợp pháp của những quyết định mà họ đưa ra, và tạo tiền đề để ngăn chặn hoạt động bất hợp pháp của các cá nhân đó, góp phần kiểm soát việc những người này sử dụng vốn của nhà nước, cũng như bảo quản tài sản công cộng và nhà nước. Ngoài ra, còn định hình tình huống trong xung đột lợi ích ở cơ quan nhà nước, theo đó thì khi đưa ra quyết định hoặc thực hiện hành vi hành chính vì lợi ích chung thì công chức phải loại trừ bất kỳ lợi ích cá nhân. Trình tự điều chỉnh xung đột lợi ích bao gồm trách nhiệm của công chức có thẩm quyền thực hiện các chức năng nhà nước phải sử dụng các biện pháp để tránh khả năng bất kỳ xảy ra xung đột quyền lợi, cũng như khẩn cấp báo cáo trực tiếp cho người lãnh đạo về sự tồn tại của bất kỳ xung đột lợi ích nào, hoặc tình trạng thể dẫn đến không thực hiện được, hoặc thực hiện không đúng trách nhiệm công chức (Điều 14). Việc điều chỉnh giới hạn quan hệ công tác giữa những người thân gần gũi có tác dụng thúc đẩy ngăn ngừa xung đột lợi ích và hành vi phạm tội tham nhũng. Người được ủy quyền thực hiện chức năng nhà nước không thể có cấp dưới trực tiếp là người thân gần gũi với mình, hoặc không thể là cấp dưới trực tiếp của người thân gần gũi đồng thời là người trực tiếp thực hiện thẩm quyền công vụ (Điều 9). Luật quy định cấm cá nhân và pháp nhân tài trợ cho các cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương thông qua việc chuyển giao tài sản hoặc cung cấp dịch vụ miễn phí (Điều 17). Họ cũng bị hạn chế nhận quà tặng (đóng góp) và được cung cấp danh sách dài các trường hợp bị cấm nhận quà. Vì vậy, việc không được phép nhận quà tặng từ các cá nhân và pháp nhân, cũng như từ những người cấp dưới, là những quyết định mang lại lợi ích cho các công chức đó,. Lệnh cấm này cũng áp dụng cho tất cả các trường hợp nhận quà liên quan tới việc lợi dụng chức vụ của quan chức và các cơ hội liên quan. Chỉ cho phép tiếp nhận món quà có giá trị không vượt quá 50% mức lương tối thiểu (không hơn $70 tại thời điểm 01/07/2012). Những món quà do người có thẩm quyền nhận để thực hiện các chức năng của nhà nước, cũng như các món quà tặng cho các cơ quan nhà nước hoặc chính quyền địa phương được thừa nhận là tài sản nhà nước hoặc tài sản công cộng. Tất cả những món quà như vậy phải được gửi cho nhà nước hoặc cơ quan chính quyền địa phương. Trong trường hợp vi phạm các quy tắc này, hành vi của quan chức có thể bị coi là chiếm đoạt tài sản nhà nước, còn người đó sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của bộ luật hình sự (Điều 8). Theo Luật này, trách nhiệm của công chức có thẩm quyền thực hiện chức năng nhà nước không những bắt buộc phải cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, các nghĩa vụ tài chính, mà còn chi phí của họ. Quy định này cho phép kiểm soát sự tồn tại nguồn thu nhập thực sự của công chức, khả năng thu nhập và giữ gìn tài sản một cách hợp pháp. Ngoài ra, những người được ủy quyền thực hiện chức năng nhà nước hoặc chính quyền địa phương, và các quan chức thuộc pháp nhân luật công được nhận tiền lương từ ngân sách nhà nước hoặc địa phương, trong trường hợp mở tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng ngoài Ucraina, trong vòng mười ngày có trách nhiệm thông báo bằng văn bản điều đó cùng số tài khoản và địa điểm của ngân hàng cho cơ quan thuế nhà nước nơi cư trú (Điều 12). Các điều khoản của Luật này cũng điều chỉnh vấn đề về trình tự tiến hành kiểm tra đặc biệt hành vi về đối tượng được tiến cử giữ chức vụ cụ thể có nhiệm vụ thực hiện chức năng nhà nước hoặc chính quyền địa phương. Cuộc kiểm tra đặc biệt sẽ được tiến hành trong thời hạn mười lăm ngày kể từ khi người được tiến cử giữ chức vụ có văn bản đồng ý. Nếu người được tiến cử này không cung cấp sự đồng ý như vậy, vấn đề bổ nhiệm chức vụ đó sẽ không được xem xét. Đượcphépkiểmtrathôngtinsau: a) Các sự kiện liên quan đến trách nhiệm hình sự, bao gồm cả hành vi phạm tội tham nhũng, tiền án, xóa án và hủy bỏ án; b) Đối tượng có bị xử phạt hành chính vì phạm tội tham nhũng trong quá khứ hay không; c) Độ tin cậy của thông tin trong bản kê khai tài sản, thu nhập và chi phí, các nghĩa vụ tài chính; d) Có tham gia doanh nghiệp hay không; e) Tình trạng sức khỏe, giáo dục, văn bằng đại học, chức danh khoa học, nâng cao nghiệp vụ. Trình tự tổ chức kiểm tra đặc biệt do người đứng đầu Nhà nước phê chuẩn (Điều 11). Luật pháp quy định các loại trách nhiệm đối với tội phạm tham nhũng. Đối tượng chịu trách nhiệm hình sự, hành chính, dân sự và kỷ luật theo quy định của luật định phụ thuộc vào mức độ của hành vi phạm tội. Ngoài ra, còn thực hiện đăng ký nhà nước thống nhất các đối tượng phạm tội tham nhũng, là cơ sở dữ liệu tập trung thông tin của tất cả những người chịu trách nhiệm vì hành vi phạm tội tham nhũng. Những thông tin như thế được gửi đến cơ quan đăng ký trong thời hạn ba ngày kể từ ngày quyết định của tòa án về vụ việc này có hiệu lực. Sự hình thành và thực hiện đăng ký nhà nước thống nhất này thuộc trách nhiệm của Bộ Tư pháp Ucraina (Điều 21). Thêm nữa, cơ chế loại bỏ những đối tượng thi hành công vụ, cũng như giải phóng và tước quyền thực hiện chức năng nhà nước trong một thời gian nhất định có thể được sử dụng. Quyết định này chỉ được chấp nhận trên cơ sở phán quyết của tòa án (Điều 22). Ngoài các biện pháp xử phạt hình sự và hành chính, đối tượng phạm tội tham nhũng phải chịu trách nhiệm khắc phục hậu quả của hành vi phạm tội bằng cách bồi thường đầy đủ thiệt hại tâm lý và/hoặc tài sản, thiệt hại gây ra cho nhà nước, cho cá nhân và pháp nhân bị vi phạm quyền và lợi ích do hậu quả của hành vi phạm tội tham nhũng (Điều 23). Vốn và tài sản có được từ hành vi tham nhũng sẽ bị tịch thu bởi quyết định của tòa án, còn giá trị của những lợi ích và dịch vụ bất hợp pháp đó sẽ bị tịch thu về cho nhà nước (Điều 26). Thẩm định tính chống tham nhũng các đự thảo văn bản luật Điểm quan trọng ở đây là Luật mới lường trước việc Bộ Tư pháp Ucraina thực hiện thẩm định tính trách nhiệm chống tham nhũng các dự thảo luật pháp của Ucraina, các quy định của Tổng thống Ucraina, văn bản luật khác được phát triển bởi chính phủ Ucraina, bởi các Bộ và cơ quan hành pháp trung ương khác. Điều này đảm bảo việc phát hiện ra các quy tắc mà theo những lý do nào đó có thể tạo điều kiện thực hiện tội phạm tham nhũng. Trình tự thực hiện việc thẩm định tính chống tham nhũng các dự thảo văn bản luật đã được phê duyệt bởi nghị quyết chính phủ Ucraina số 1057 từ ngày 16 Tháng 9 năm 2009. Mục tiêu chính của việc thẩm định tính chống tham nhũng là xác định sự hiện diện hay thiếu vắng yếu tố tham nhũng và những lời khuyến cáo nhằm loại bỏ tham nhũng. Để đảm bảo việc kiểm soát xã hội, có thể tiến hành và công bố thẩm định tính chống tham nhũng toàn xã hội đối với các văn bản luật theo sáng kiến và dựa vào chi phí của những cá nhân và pháp nhân có mối quan tâm, cũng như của các hiệp hội dân sự (Điều 15). Thẩm định tính chống tham nhũng là một công cụ hiệu quả cho phép phân tích tài liệu về sự hiện diện của yếu tố tham nhũng một cách chất lượng và đồng thời loại bỏ các định nghĩa hai mặt, mở hoặc kín, ra khỏi các văn bản luật pháp và không cho phép các yếu tố tham nhũng mới xuất hiện. Trước năm 2011, thẩm định tính chống tham nhũng được tiến hành bởi cơ quan có toàn quyền của Chính phủ về các vấn đề chính sách chống tham nhũng. Từ tháng 11 năm 2009 đến tháng 9 năm 2010, các chuyên gia từ Văn phòng về các vấn đề chính sách chống tham nhũng đã tổ chức thẩm định tính chống tham nhũng trong 269 dự thảo các văn bản luật pháp, trong đó, theo kết quả phân tích, đã xác định được yếu tố tham nhũng trong 74 dự thảo (27,5%). Trong năm 2011, theo quy định của các Luật Ucraina "Về nguyên tắc phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng”, nhiệm vụ của cơ quan toàn quyền của Chính phủ đã được bãi bỏ, còn chức năng của cơ quan này được giao cho Bộ Tư pháp (trước đây là cả hai cơ quan này đã được trao quyền để thực hiện thẩm định tính chống tham nhũng). Như đã đề cập ở trên, trong mục 2, điều 15 của Luật này xác định tính chất bắt buộc việc thẩm định tính chống tham nhũng trong các dự thảo luật pháp Ucraina, các quy định của Tổng thống Ucraina, các văn bản pháp luật khác được phát triển bởi chính phủ Ucraina, các Bộ và các cơ quan hành pháp trung ương khác. Đồng thời, điều khoản này không bắt buộc thẩm định tính trách nhiệm chống tham nhũng trong các quy định của cơ quan chính quyền địa phương. Tuy nhiên, pháp luật quy định rằng công chúng phải tham gia đóng góp những nỗ lực để ngăn chặn và đấu tranh chống tham nhũng, đặc biệt là các hiệp hội dân sự, các thành viên cá nhân hoặc người đại diện uỷ quyền có quyền: 1) Báo cáo các hiện tượng ấn định hành vi tham nhũng cho các cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực đấu tranh chống tham nhũng, và các cơ quan khác; 2) Yêu cầu và nhận thông tin về các hoạt động liên quan đến công tác phòng chống tham nhũng từ các cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương; 3) Thực hiện, yêu cầu thẩm định tính trách nhiệm chống tham nhũng toàn xã hội trong các dự thảo văn bản luật pháp, căn cứ theo kết quả kiểm tra để kiến nghị của các cơ quan chính phủ có liên quan; 4) Tham gia các phiên điều trần Quốc hội và những hoạt động khác về vấn đề phòng chống tham nhũng; 5) Đóng góp đề xuất sáng kiến lập pháp cho các chủ thể pháp luật để hoàn thiện việc điều chỉnh lập pháp các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng; 6) Tiến hành, yêu cầu thực hiện nghiên cứu (bao gồm cả khoa học, xã hội học, v.v) về vấn đề phòng ngừa và chống tham nhũng; 7) Thực hiện các hoạt động cung cấp thông tin cho người dân về những vấn đề phòng chống tham nhũng; 8) Tiến hành kiểm tra xã hội việc thực thi pháp luật trong quá trình ngăn ngừa và đấu tranh chống tham nhũng và đồng thời sử dụng các hình thức kiểm soát không trái với luật định (Điều 18). Mức độ hiệu quả của mô hình này là vấn đề thời gian, nhưng đối với Ucraina thì thực hiện trách nhiệm và thẩm định tính chống tham nhũng toàn xã hội là vô cùng quan trọng, bởi vì các yếu tố tham nhũng có vai trò thúc đẩy hoặc tạo điều kiện cho tội phạm tham nhũng thường hiện diện trong các quy định pháp luật. Đặc tính của những thay đổi mới nhất trong pháp luật Ukraine thông qua việc chấp thuận đạo luật chống tham nhũng mới Đề cập liên quan đến các hướng cụ thể khác nhằm hoàn thiện pháp luật nhà nước chống tham nhũng, thì phần lớn các hướng phát triển dựa vào khuyến nghị của Nhóm các quốc gia chống tham những (GREKO) đối với Ucraina vì Ucraina mới gia nhập nhóm các quốc gia này và nhằm mục đích áp dụng các tiêu chuẩn châu Âu để ngăn chặn và đấu tranh chống tham nhũng. Những khuyến nghị của GRECO, như một ví dụ, đề cập đến sự cần thiết phải sửa đổi hệ thống trách nhiệm hành chính của Ucraina đối với tội phạm tham nhũng và khẳng định các hành vi tham nhũng phải được coi như tội phạm hình sự. Trong bất kỳ trường hợp nào, các căn cứ để truy tố hình sự và áp dụng xử phạt hành chính phải được xác minh rõ ràng. Theo nội dung của Luật "Về việc sửa đổi vài quy định luật pháp của Ucraina về trách nhiệm đối với tội tham nhũng" từ ngày 7 tháng 4 năm 2011, số 3207-VI để hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự và Bộ luật hinh sự; cũng như Bộ luật của Ucraina về hành vi tội phạm hành chính phải được tiến hành để phù hợp với quy định của Luật Ucraina "Về nguyên tắc phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng". Luật này đưa vào hoạt động các quy tắc tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân, cũng như về trình tự tố tụng hình sự. Bộ luật của Ucraina về hành vi tội phạm hành chính được bổ sung với điều khoản riêng về tội phạm tham nhũng hành chính, trong đó bao gồm: - Vi phạm các hạn chế về việc sử dụng các vị trí công vụ; - Vi phạm các hạn chế về việc kết hợp với các hoạt động khác; - Vi phạm các hạn chế về việc nhận quà tặng (đóng góp); - Đề nghị hoặc cung cấp lợi ích bất hợp pháp; - Vi phạm yêu cầu kiểm soát tài chính; - Vi phạm yêu cầu thông báo về các xung đột lợi ích; - Không sử dụng biện pháp chống tham nhũng. Các điều khoản của chương này thiết lập các hình phạt thích hợp đối với đối tượng phạm tội. Vì thế, theo điều 172-4, người vi phạm hạn chế theo quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh hoặc hoặc động khác có lợi nhuận (trừ các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu và sáng tạo, thực hành y tế và tư pháp, thực hành giảng viên thể thao) sẽ bị phạt từ năm mươi đến một trăm hai mươi mức thu nhập tối thiểu không chịu thuế của công dân, cùng với đó là việc tịch thu toàn bộ thu nhập có được từ hoạt động kinh doanh hoặc các phần thưởng có được từ việc làm kết hợp này. Các quy định mới của Bộ luật cũng cải thiện trình tự thủ tục tố tụng tòa án về các vi phạm hành chính và thời gian xem xét từng trường hợp. Trong bộ luật hình sự Ucraina có phát triển các điều khoản xác định nhân tố chủ quan cấu tạo tội phạm tham nhũng, cũng như cách thức trừng phạt vì những tội ác như vậy, bao gồm: - Tự ý chiếm đoạt quyền hạn hoặc chức vụ của quan chức; - Giả mạo, tiêu hao hoặc sử dụng các tài liệu, con dấu, tem và mẫu giấy tờ; - Lạm dụng quyền lực hoặc vị trí công tác, cũng như hoạt động quá quyền lực và quyền hạn; - Lạm dụng quyền lực pháp nhân luật tư bởi người chịu trách nhiệm bất kể hình thức pháp lý; - Sơ suất công vụ; - Nhận hối lộ, v.v. Ví dụ, hành vi nhận hối lộ với số lượng tiền lớn bởi đối tượng công vụ có vị trí trách nhiệm, hoặc theo cách sắp xếp từ trước của một khi nhóm người, hoặc lập lại, hoặc đi kèm với tống tiền, bị phạt tù thời hạn 5 đến 10 năm cùng với việc tước quyền giữ chức vụ nhất định, hoặc tham gia một số hoạt động bắt buộc đến 3 năm và tịch thu tài sản. Tóm tắt lại nội dung, có thể lưu ý rằng chính cơ quan lập pháp đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và định hình các công cụ chính sách chống tham nhũng. Trong hầu hết các quốc gia đã phát triển, cơ quan lập pháp thành lập và đã đưa vào hoạt động những luật lệ đặc biệt nhằm chống tham nhũng. Biện pháp giảm tham nhũng Mức độ tham nhũng, như tại Việt Nam và Ucraina, đang quá cao, đe dọa đến sự ổn định của phát triển kinh tế-xã hội cả hai nước, cũng như hoạt động hiệu quả của các định chế dân chủ. Từ kinh nghiệm của Ucraina trong lĩnh vực đấu tranh chống tham nhũng, có thể nói rằng để đảm bảo hiệu quả chống hiện tượng tiêu cực này thì phải đảm bảo việc hoạt động của các cơ quan chức năng nhà nước dựa vào trên cơ sở nguyên tắc minh bạch, cởi mở và chịu trách nhiệm. Sự tham gia của xã hội dân sự trong việc ngăn ngừa và đấu tranh chống tham nhũng cũng là một yếu tố quan trọng trong hệ thống đắu tranh chống lại hiện tượng này. Việc tương tác chặt chẽ giữa nhà nước và các tổ chức xã hội dân sự sẽ đảm bảo được thái độ không khoan dung của công dân đối với mọi biểu hiện của tham nhũng. Thực hiện hệ thống kiểm soát công khai đa dạng các hoạt động của cơ quan hành pháp sẽ đảm bảo tính minh bạch của các cơ quan này và các quan chức của họ. Mức độ và quy mô tham nhũng, hiệu quả của các qúa trình chống tham nhũng chủ yếu phụ thuộc vào tính lương thiện của công chức được giao chức vụ có lựa chọn, phụ thuộc vào tính dân chủ trong hệ thống chính trị nói chung và quá trình bầu cử nói riêng. Đồng thời, việc đảm bảo tính lương thiện chỉ có thể có được với điều kiện tổ chức bầu cử có hệ thống một cách tự do và công bằng dựa trên nguyên tắc dân chủ. Vai trò hàng đầu trong cuộc chiến chống tham nhũng ở các quốc gia dân chủ cũng thuộc về tổ chức hoạt động của ngành tư pháp một cách hiệu quả. Trong bối cảnh này, cần thiết đảm bảo sự độc lập của thẩm phán, đảm bảo một mức lương đủ đáp ứng nhu cầu thiết yếu của họ, và tạo ra một hệ thống đào tạo và nâng cao chuyên môn cho nhành tư pháp này. Một điều kiện tiên quyết quan trọng nữa để giảm mức độ tham nhũng là việc áp dụng các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế trong lĩnh vực này vào pháp luật nhà nước Việt Nam. Ngoài ra, để phát triển các cơ chế thích hợp chống tham nhũng cũng cần thiết phải nghiên cứu kinh nghiệm tốt nhất của các nước đã phát triển nhất trong cộng đồng thế giới. Việc xử lý các góp ý hiệu quả để hoàn thiện các cơ chế đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam đòi hỏi quá trình nghiên cứu sâu sắc hơn về bản chất các mối quan hệ xã hội, luật pháp nhà nước và thực tế trong việc áp dụng./. GS. TS. Aleksandr Kopylenko

lich tiep dan

qla2

vb-tinh

vb-trung-uong

Thống kê truy cập

7121296
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả
1165
1028
4048
7777
22490
6468776
7121296

IP của bạn: 3.236.212.116

RSS

Ngày tháng

Thu09232021